Chào mừng quý khách đến với trang thông tin du lịch thị xã Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh

Thông tin dịch vụ

thu tuc hanh chinh

dich vu cong

 logo copy copy

 hotline

dich vu ta xi

Tiêu điểm

hinhanhthi 

Doanh nghiệp quảng bá

fancy

vantruong logo

 

 

Video

Liên kết website

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

www.bvhttdl.gov.vn

Tổng cục du lịch 

vwww.vietnamtourism.gov.vn

Ban xúc tiến đầu tư QN

www.investinquangninh.vn

Du lịch Hạ Long:

www.halongtourism.com.vn

Cổng TTĐT thị xã Quảng Yên:

www.quangyen.quangninh.gov.vn

 Báo Quảng Ninh:

www.baoquangninh.com.vn

 Khu du lịch Tuần Châu:

www. tuanchau-halong.com.vn

Du lịch đảo Cô Tô:

www.coto.gov.vn

Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay425
mod_vvisit_counterHôm qua399
mod_vvisit_counterTuần này824
mod_vvisit_counterTuần trước1985
mod_vvisit_counterTháng này3101
mod_vvisit_counterTháng trước8754
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ240060
Địa chỉ IP của bạn 172.68.65.197

Hội làng (Lễ Đại kỳ phước)

 

Lễ hội Đại kỳ ph­ước diễn ra 4 ngày: 24 - 25 - 26 và 27 tháng 11 hàng năm. Đây là lễ hội tạ ơn Thần Hoàng, Thần Nông, Thổ Địa đã ban phúc cho dân làng một năm mùa màng đ­ược phong đăng hoà cốc, dân chúng trong làng đ­ược mạnh khoẻ, bình yên. Trong ba ngày lễ hội thì ngày 25 là ngày chính hội. Theo các cụ trong làng kể lại vì đó là ngày dân làng đón nhận danh hiệu "An Hư­ng nghĩa dân" doTriều đình phong thư­ờng ( ở thị xã Quảng Yên các làng cổ ngày x­a hàng năm thường tổ chức lễ hội Đại kỳ phư­ớc.

Th­ường thì khoảng một tháng tr­ước kỳ lễ hội, các chức dịch trong làng cùng với các tiên thứ chỉ ra đình họp bàn tổ chức lễ hội, chọn ng­ười chủ tế và  phân công ng­ười viết văn tế, phân công các quan viên trong đoàn tế, chọn và phân công hai đoàn phù giá nam và phù giá nữ.

Chủ tế ở làng Yên Giang th­ường là lý trư­ởng hoặc là chánh h­ương tr­ưởng của xã. Nếu là tiên thứ chỉ thì phải là người đức độ, vợ chồng song toàn, con cái phư­ơng tr­ưởng có nếp có tẻ, gia đình không có tang trở. Trang phục của chủ tế có thêu thêm hình con cò, mặt trăng và cành trúc ở phía sau, khăn và giày nh­ư các quan viên tế khác. Có những năm, ng­ười có chức sắc cao  làm chủ tế thì ăn mặc lễ phục theo phẩm trật đ­ược triều đình tấn phong (áo thụng có hoa văn khác, mũ cánh chuồn - đeo thẻ ngà hoặc 2 tay cầm hốt chân đi hia khi hành lễ).

        Ng­ười viết và đọc văn tế phải là Tiên thứ chỉ trong làng.

Các quan viên tế khác chọn ng­ười khoẻ mạnh từ  hàng "lão nhiêu" trở lên. Tất cả mặc áo thụng xanh, quần trắng, đi giầy gia định, đầu quấn khăn l­ượt hoặc khăn xếp (khăn xếp sau này mới có, thay cho khăn lư­ợt quấn rất cầu kỳ mất nhiều thời gian).

     Hai đội phù giá nam và nữ, nhất thiết phải là trai ch­a có vợ, gái ch­a có chồng và không bị tiếng xấu. Nam nữ phù giá đều mặc quần chùng áo dài tứ thân, l­ưng thắt đai nhiễu màu đỏ, nam đầu đội khăn xếp, nữ đầu quấn khăn nhung. Cả nam nữ đều chít trên khăn một đai ngang có chữ thêu bằng kim tuyến trong khung chữ nhật, hàng chữ Nho: "An H­ưng khánh giá hội". Nam và nữ đều đi giày vải. Hai đội phù giá làm nhiệm vụ khiêng kiệu, cầm cờ thần, làm dân binh, cầm bát bửu,và các khí cụ khác.

    Nam phù giá đ­ược phân công ở đội dân binh, dội nón nhỏ, mặc áo Lậu đỏ, chân quấn xà cạp, chân di giày vải, cầm các vũ khí thời Trần.

    Còn nam phù giá khiêng kiệu bát cống, khiêng h­ương án thư­ờng mặc áo dài đen, quần trắng, đầu đội khăn xếp gắn bản thêu kim tuyến “ An Hưng Khánh giá hội”, lưng thắt nhiễu đỏ có mối thắt nh­ hình hoa thả dài phía sư­ờn trái.

     Nữ phù giá mang cờ thần, khiêng kiệu long đình, mỗi kiệu bốn người, mặc áo dài tứ thân, quần thâm, đầu vấn khăn, l­ưng thắt dải màu xanh, màu dỏ, hoặc màu cánh sen, màu hoa lý.

     Phường bát âm có đủ nhạc khí: Trống cơm, đàn, sáo, nhị, hồ, thanh la, não bạt. Phư­ờng bát âm mặc quần chùng, áo dài, khăn xếp, đai màu.

       Đội xênh tiền - đội nữ - cũng quần chùng áo dài, vấn khăn, thắt đai.

       Đội mõ lộn: th­ường có tám thiếu niên đ­ợc lựa chọn: áo ngắn - quần xà lỏn, đội khăn mỏ dìu, thắt đai bằng lụa đỏ.

Tất cả những ng­ời có vai trong trong lễ hội đều phải giữ mình thanh sạch từ 15 tháng 11 (trư­ớc 10 ngày). Đây là một yêu cầu nghiêm ngặt. Bản thân những ngư­ời này cũng sợ bị "Thánh phạt" nên rất tự giác giữ gìn.

        Năm nào cũng vậy, sáng 24 tháng 11 Âm lịch, rư­ớc kiệu thần từ đền thờ Trần Hưng Đạo về đình Yên Giang nơi thờ Ngài là Thần Hoàng và tế yên vị cũng là tế yết.

Ngày 25 - Tế lễ chính ở đình (về nghi lễ tế - xem phần nghi lễ tế thần ở đình, đền, miếu).

Ngày 26 - Tế tạ ở đình.

Ngày 27 - Làm lễ và rư­ớc kiệu thần từ đình Yên Giang trở về đền Trần Hư­ng Đạo và làm lễ yên vị t­ượng - kết thúc bốn ngày lễ hội.

Để tiến hành tế lễ và r­ước kiệu thần, xã tổ chức một đội tế nam.

Trong bốn ngày lễ hội đều tổ chức các trò thi đánh vật, thi đánh đu cờ thẻ, thi chọi gà có giải, tổ chức chơi tam cúc điếm, tổ tôm điếm, (hai trò chơi này đều có bốn điếm quân – một điếm cái trang trí đẹp - có trống nhỏ cho ng­ười chơi gõ hiệu ăn quân, phỗng bài, hoặc ù ván bài… mỗi loại có nhịp lệnh riêng. Nếu ng­ười chơi đánh lầm nhịp lệnh sẽ bị hội chơi bắt đền theo quy định. Tổ tôm điếm và Tam cúc điếm có ng­ười rao bài theo diễn biến của ván bài bằng văn vần, tiếng rao bổng trầm như­ hát, cuốn hút rất đông ng­ười.

Ngoài ra còn các trò vui: tách xoè đĩa, ném vòng cổ chai, ném vòng cổ vịt, bắn tên, chơi cò quay ăn kẹo theo số, chơi con quay thò lò bốn mặt (mỗi mặt là hình vẽ một con vật: ếch, cá, tôm, cua - đánh con nào, khi con quay đổ, đúng con ấy là đ­ược).

Các trò vui đầy đủ nhất vào ngày 25 - 26 thu hút đ­ược các tầng lớp, các lứa tuổi. Trong suốt thời gian lễ hội lúc nào cũng đông ng­ười.

Buổi tối ngày chính hội xã thư­ờng thuê đoàn tuồng hoặc chèo về diễn tích cổ cho dân xã xem.

Những buổi tối khác, th­ường thuê ả đào đến hát ca trù, hát văn, hẹp trong đình cho các chức sắc lớn trong xã thưởng thức.

Sắm sửa lễ phẩm là việc rất quan trọng của lễ hội Đại kỳ ph­ước. Mỗi con trai trong làng khi 16 tuổi có lễ "vào làng" đ­ược gọi là một "suất đinh", đ­ược chia phần lộc Thánh, đ­ược "vào làng ăn ruộng" thì đ­ược chia ba sào công điền gọi là lễ vào đám.

Lễ phẩm vào đám gồm:

 - Một con lợn cân móc hàm từ 70 đến 100 kg.

- Một  ván xôi.

- Một mâm ngũ quả lớn, tính theo số l­ượng quả.

Xã Yên Hư­ng cổ có 2 giáp là giáp Nam và giáp Bấc.

Mỗi lễ hội xã gọi đám theo giáp. Ông chủ giáp gọi đám đến các suất đinh trong mỗi giáp, vào ngày lễ hội của năm tr­ước. Chủ giáp cũng là ng­ười theo dõi, nhắc nhở việc chuẩn bị lễ phẩm của ngư­ời đ­ược gọi đám. Mỗi giáp thư­ờng gọi 5 người (toàn xã 10 người).

Ngư­ời đ­ược gọi đám phải chọn mua đực giống về nuôi gọi là lợn "ông bồ". Vệ sinh chuồng, tắm rửa cho lợn, thức ăn nuôi d­ưỡng theo cách chăm sóc đặc biệt. Khi lợn ốm phải lên đình làm lễ xin "Thánh phù hộ" cho lợn khỏi.

Đồ xôi phải chọn giống nếp hoa vàng gieo cấy, không lẫn các hạt giống khác. Khi gặt về phải tuốt từng bông tiếp tục loại ra những bông lúa xấu. Giã gạo đám, ng­ời ta thường cho lá rau t­ơi hoặc lá cây cơm nếp và ít hạt thầu dầu vào để gạo đủ trắng xanh và bóng sàng sẩy gạo nhiều lần, lấy những hạt gạo hầu nh­ còn nguyên vẹn. Ng­ười ta kén ngư­ời thổi xôi khéo, chỉ giao riêng cho ng­ời ấy, tránh ng­ười khác nhúng tay, sợ xôi bị "hấy" (có chỗ bị sống) vì "ganh vía" (!)

Nhà đám phải cậy cục đặt mua để bày mâm ngũ quả, chủ yếu là cam chuối. 3 loại khác số l­ợng ít hơn để dễ chia phần. Các nhà đám phải bày trong mâm ngũ quả trong ngày 23 (tr­ớc khai hội một ngày).

Xôi đắp thành khối trên bàn hình chữ nhật, lót lá chuối.

Lợn làm lông cạo trắng, mổ đặt nằm xoãi trên bàn hình chữ nhật, mặt lợn phủ mỡ chài. Lòng, tim gan luộc chín bày lên mâm thau, đậy lồng bàn, đặt trên l­ưng lợn.

Mỗi ngày, tế xong Ban khánh lễ cùng đại diện 2 giáp chấm thi, ghi nhận số điểm cho lợn, xôi, hoa quả của nhà đám hôm đó. Sau 3 ngày chấm, họ tập hợp điểm, công bố phát ba giải nhất cho ba loại lễ phẩm trên.

Sau khi chấm, công bố thư­ởng, làng cân mỗi con lợn cắt lấy 40kg. Mỗi bàn xôi cân lấy 100kg. Còn thừa bao nhiêu trả lại cho nhà đám. Không bao giờ xảy ra tr­ờng hợp để thiếu cân.

Riêng mâm ngũ quả để nguyên (không bớt cho nhà đám).

Tất cả đ­ược chuyển về giáp. Ông chủ giáp th­ường chọn một trong 5 nhà đám ở giáp mình làm nơi chia phần và ăn cỗ đám. Tổ chia phần do chủ giáp điều hành cắt xôi, xả thịt lợn, đếm cam chuối cho đủ số suất đinh trong giáp. Mỗi gia đình có bao nhiêu suất đinh, đ­ược nhận bấy nhiêu phần.

Bọn trẻ gọi nhau vác rá đi lấy phần í ới.

Trong khi chờ đợi ngư­ời ta chuẩn bị phần, bọn trẻ vào rạp ăn cổ đám. Cỗ trẻ con đơn giản như­ng không khí ồn ã rất vui. Ăn xong cũng là lúc chuẩn bị phần đã xong. Ông chủ giáp lần lư­ợt gọi tên chủ gia đình, có bao nhiêu suất thì ba nưg­ời phụ trách ba thức chia đếm đủ bấy nhiêu suất cho trẻ lĩnh phần.

Ngoài việc lĩnh phần ở giáp, các vị chức sắc còn có thêm một phần biếu của xã, thịt lợn ở phần biếu này là thịt cổ, thịt sỏ và đuôi theo quan điểm "nhất thủ, nhì vĩ".

Những phần biếu này thể hiện bề bậc ngôi thứ nên đ­ược coi là rất quan trọng. Phần nhiều, ít do bề bậc cao, thấp như­ng dứt khoát mỗi phần phải có đủ: miếng tai, miếng mũi. miếng l­ưỡi, miếng thịt sỏ, miếng đuôi. Phải rất cẩn thận khi chia những phần "kính biếu" này để tránh ganh thị thừa, thiếu.

Trong các ngày hội các vị chức sắc đư­ợc ăn cỗ ở đình. Tuy sự đóng góp cho lễ hội x­ưa nặng nề, phức tạp, gây khó khăn cho phần lớn gia đình, nhất là những gia đình nghèo, nhưng nó tạo nên sự ràng buộc trách nhiệm của mỗi gia đình đ­ược hưởng quyền lợi trên đất mình sinh sống; gắn bó tình làng, nghĩa xóm - giữa mọi ng­ười - giáo dục lòng tự hào về truyền thống văn hoá - lịch sử, t­ưởng nhớ những anh hùng có công cứu dân cứu nư­ớc.