Chào mừng quý khách đến với trang thông tin du lịch thị xã Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh

Thông tin dịch vụ

thu tuc hanh chinh

dich vu cong

 logo copy copy

 hotline

dich vu ta xi

Tiêu điểm

hinhanhthi 

Doanh nghiệp quảng bá

fancy

vantruong logo

 

 

Video

Liên kết website

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

www.bvhttdl.gov.vn

Tổng cục du lịch 

vwww.vietnamtourism.gov.vn

Ban xúc tiến đầu tư QN

www.investinquangninh.vn

Du lịch Hạ Long:

www.halongtourism.com.vn

Cổng TTĐT thị xã Quảng Yên:

www.quangyen.quangninh.gov.vn

 Báo Quảng Ninh:

www.baoquangninh.com.vn

 Khu du lịch Tuần Châu:

www. tuanchau-halong.com.vn

Du lịch đảo Cô Tô:

www.coto.gov.vn

Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay15
mod_vvisit_counterHôm qua233
mod_vvisit_counterTuần này15
mod_vvisit_counterTuần trước1935
mod_vvisit_counterTháng này4969
mod_vvisit_counterTháng trước7825
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ233174
Địa chỉ IP của bạn 172.69.63.236

Lễ hội Tiên Công- thị xã Quảng Yên - Quảng Ninh

 

1. Lễ hội Tiên Công xưa

 Diễn trình lễ hội:

+ Ngày mồng 2,3,4 tháng Giêng:

Vào tối mồng 2 tháng Giêng, các cụ trong hội đồng gia tộc họ túc yết tại từ đường họ để chuẩn bị nốt các công việc cho ngày mồng 3 tế Tổ. Ngày mồng 3 tháng Giêng, cácgia đình trong dòng họ đem lễ vật đến cúng Tổ tại từ đường của dòng họ.

Lễ ra cỗ họ truyền thống hay còn gọi là lễ minh niên, mang ý nghĩa cầu mong tiên tổ phù hộ cho con cháu trong dòng họ mạnh khoẻ, làm ăn may mắn, thuận lợi trong cả năm. Lễ ra cỗ họ là dịp để con cháu tỏ lòng thành hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Từ ngày làm lễ ra cỗ họ tới đêm ngày mồng 5 tháng Giêng, gia đình có cụ thượng thọ 80 tuổi, 90 tuổi, 100 tuổi đều có lễ vật tới từ đường cáo tiên tổ và báo cho hội đồng gia tộc biết gia đình của dòng tộc đã có người được hưởng phúc lộc của tổ tiên và trời ban tuổi thọ. Lễ ra cỗ họ và lễ mừng thọ tại mỗi gia đình là một hoạt động lễ và hoạt động hội cấu thành nên lễ hội Tiên Công .

Trong ngày mồng 4, các dòng họ Tiên Công ở Cẩm La, Phong Cốc, và Yên Đông họp đại diện để cắt cử đoàn tế cho ngày mồng 6 tại đền Thập cửu Tiên Công. Những người tham gia đoàn tế phải là những người am hiểu nghi thức, nghi lễ của một cuộc tế. Cuộc họp này cũng chọn luôn hai cụ thượng tiêu biểu có sức khoẻ để đắp đê tượng trưng ở cửa đền vào ngày chính hội (mồng 7 tháng Giêng) và đánh vật tượng trưng.

+ Ngày mồng 5.

Con cháu các gia đình có cụ thượng thọ chuẩn bị lễ phục cho các cụ thượng thọ. Lễ phục cho cụ ông gồm: Khăn xếp màu đen, áo dài bằng vải satanh hoặc lụa màu xanh, đỏ hoặc vàng có in trang trí bằng nhiều chữ thọ, quần trắng, giày vải nhung màu xanh, đỏ, trắng hay vàng, gậy chống làm bằng cây trúc hoặc gỗ được trang trí đẹp.

Le hoi tien cong 2

Lễ phục cho cụ bà gồm: Khăn vấn bằng nhung the đen, áo cánh bên trong, bên ngoài là áo dài tứ thân màu gụ in chữ thọ trang trí, áo ngắn dài tay để vận bên ngoài được may bằng vải nhung the trần hai lớp, tràng hạt đeo cổ, quần được may bằng vải lụa hoặc satanh màu đen, giầy bằng vải nhung màu xanh, đỏ hoặc vàng, gậy cầm tay được làm bằng trúc hoặc gỗ được trang trí đẹp và một hộp đựng trầu cau.

Chuẩn bị ban thờ cho nghi lễ mừng thọ:

Trang trí án gian (hương án): Án gian cổ truyền được sơn son thếp vàng; một trong những đồ thờ đặc biệt được bày trên hương án là mâm ngũ quả được trình bày dưới hình dáng con long mã. Long mã (đầu rồng mình ngựa) rất đẹp và uy nghi. Long mã được làm bằng các hoa quả, sản vật địa phương: đầu long mã làm bằng quả đu đủ xanh, răng nanh làm bằng các quả ớt đỏ, râu làm bằng hoa cây móc, mũi bằng quả na, thân và chân làm bằng các quả chuối, hoa chuối, điểm thêm các quả quýt, đuôi và bờm làm bằng hoa cây móc và mắt được điểm bằng hai hạt nhãn. Toàn bộ con Long Mã được đặt trên một mâm bồng hình chữ nhật sơn son thếp vàng. Theo phật sử, Long Mã là con vật dữ ở biển, được phật quy y làm đệ tử, giao cho trị thủy ở bể Đông, có tên gọi Ananđà. Người dân vùng đảo Hà Nam  thờ Long Mã trong lễ mừng thượng thọ là tín ngưỡng thờ thần biển cầu mong sức khỏe để chống chọi với thiên nhiên dữ dằn vùng cửa biển, cầu mong vị thần Long Mã giúp dân trị thuỷ để bảo vệ đê điều, giúp cho con cháu đi sông đi biển được an toàn, công việc may mắn. Con Long Mã còn có ý nghĩa là mâm ngũ quả, ban đầu các gia đình tự làm, lâu dần tạo ra những nghệ nhân khéo tay chuyên kết Long Mã. Khi kết Long Mã đẹp hay không con tuỳ thuộc vào vật liệu, tuỳ thuộc vào cảm hứng của các nghệ nhân thổi hồn vào Long Mã biến vị thần biển đồng thời là mâm ngũ quả thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, chính điều này, mà vào ngày rước các cụ thượng lên miếu thờ Tiên Công, dân làng đứng rất đông hai bên đường làng không phải chỉ để đón xem các đoàn rước mà còn để xem "chấm điểm" các con long mã; long mã được đặt trên một mâm bồng hình chữ nhật sơn son thếp vàng; đặt phía trước long mã là một mâm ngũ quả; hai bình hoa cúc, hoa dơn được đặt hai bên, trên mặt bàn thờ gia đình đặt các đồ cúng như rượu, bánh dày, hoa, quả.

Trang trí nơi làm nghi lễ mừng thọ: Ban thờ mừng thọ đặt trước ban thờ tổ tiên phía giáp cửa; phía trước ban thờ đặt một bàn đặt lễ trên có đặt hộp trầu cau của cụ bà, điếu bát của cụ ông. Hai bên bàn đặt lễ là hai ghế thọ (ghế ngồi kiểu cổ), ghế bên phải nhìn từ ngoài vào là của cụ ông, ghế bên trái là ghế của cụ bà, phía trên ban thờ (trên cửa chính) thường treo bức đại tự nói vê chúc thọ, ghi "Đăng thọ tịch" (ngồi chiếu thọ); 

+ Ngày mồng 6:

Nghi lễ mừng thọ: Trước lễ hội Tiên công, các họ tộc phải tổ chức tế tổ tại từ đường của dòng họ. Việc này được thực hiện từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 6 tết (tuỳ theo từng dòng họ, đa số được làm vào ngày mồng 6 tết). Dòng họ nào năm đó có người thượng thọ thì việc tế tổ được tổ chức lớn hơn (về lượng cỗ, món ăn và khách mời).

Lễ thượng thọ còn được gọi bằng những tên khác là Lễ kính xỉ, Lễ thiên tước. Đó thực sự là một lễ hội gia đình, họ tộc. Người ta quan niệm, gia tộc nào có người thượng thọ nghĩa là gia tộc đó ăn ở phúc đức, làm nhiều việc thiện, lao động sản xuất giỏi nên được các Tiên Công phù trợ cho trường thọ. Bất kể là ai, dù ở chi trên hay chi dưới, người đạt đến tuổi thượng thọ đều được gia tộc kính trọng, tên gọi “Cụ Thượng” trở thành tên gọi thứ hai mà mọi người trong gia tộc sẽ dùng trong giao tiếp voứi người đạt đến tuổi đó. Các cụ được con cháu xin ý kiến về nhiều việc của họ tộc như cúng tế, sửa sang từ đường, tổ chức các công việc hiếu, hỉ, khai trương, khánh thành nhà mới và nhất định phải mời được cụ Thượng đến dự để lấy may mắn. [43]

Ngày xưa, vào dịp này, mọi nhà trong gia tộc góp một phần chi phí cho gia đình cụ thượng để lo cỗ "khao" vì họ cho rằng đó là tuổi trời ban ("thiên tước") cho cả họ tộc. Lễ thượng thọ được chuẩn bị chu đáo từ trước tết, có khi trước tết hàng tháng. Con cháu các cụ phải lên danh sách khách mời, phân hàng thứ bậc để xếp mâm, dự tính khác mời từ những họ tộc khác, lo chuẩn bị các loại thực phẩm, lương thực cho hàng chục mâm cỗ, có khi tới hơn trăm mâm cỗ. Phân công người trong gia đình hoặc nhờ người trong gia tộc nấu cỗ, đón tiếp khách… Người dân vùng đảo Hà Nam (đặc biệt là dân bốn xã: Cẩm La, Phong Cốc, Trung Bản và Yên Đông) đều cho rằng lễ thượng thọ quan trọng hơn cả lễ cưới và lễ tang. Ở đảo Hà Nam còn có phong tục, người nào đã đạt qua tuổi thượng thọ khi qua đời thì con cháu không được khóc, tang lễ được xem là tang mừng của ngày lễ quy tiên, tục này nay không còn.

Nghi lễ mừng thọ ở gia đình: Tuỳ theo hoàn cảnh của từng gia đình mà tổ chức lễ mừng thọ cho các cụ Thượng quy mô to, nhỏ khác nhau. Nghi lễ mừng thọ thường được tổ chức như sau: Cụ Thượng ngồi trên ghế thọ (nếu không song thọ vẫn mời ông hoặc bà ngồi với cụ Thượng, nếu cụ Thượng chỉ còn một mình thì bố trí một ghế cho cụ Thượng). Khi con cháu, họ tộc, khách mời, dân làng đến đông đủ, buổi lễ sẽ được bắt đầu.

Người con trưởng đứng trước cụ Thượng đọc văn truy ơn. Lời văn đại ý nói về truyền thống gia phong, về công ơn của bố mẹ, về sự hiếu đễ với cha mẹ, anh, em, họ tộc và với hàng xóm của con cháu về sự tiến bộ trong lao động sản xuất phát triển kinh tế, công tác, chấp hành chính sách pháp luật, xây dựng gia đình phát triển toàn diện. Người con trưởng hứa với cha mẹ về những việc trên trong thời gian tới, chúc thọ cụ Thượng và lễ sống cụ Thượng ba vái. Sau đó, các con trai, gái, dâu, rể trong gia đình bắt đầu lễ sống cụ Thượng và tặng quà cho các cụ đồng thời cũng nhận lộc tuổi từ cụ ban cho. Sau đó các chức sắc trong làng, xã đến chúc thọ, tiếp đến là các cụ, chú bác cô dì nội thân, các bậc cao niên của xóm giềng bạn bè, rồi đến con cháu nội thân cùng bạn bè, xóm giềng vào chúc thọ và lễ sống cụ Thượng. Các cụ trong hội bảo thọ đến chúc cụ Thượng sống lâu hơn. Tất cả những người đến mừng cụ Thượng đều sẽ dự cỗ khao của gia đình cụ Thượng để lấy lộc tuổi. Gia đình nào càng nhiều khách đến chúc thọ thì càng vinh dự. Bữa tiệc khao thượng thọ này có thể kéo dài từ trưa đến suốt tối. Ngày nay nghi thức lễ mừng thọ tại gia đình ở vùng đảo Hà Nam được làm ngắn gọn hơn, nhưng họ không thể bỏ việc làm cỗ chiêu đãi con cháu và khách. Tuy nhiên vẫn còn một số gia đình khá giả làm lễ mừng thọ cầu kỳ, tốn kém. Đầu tiên chỉ có cụ ôngmới được làm thượng thọ và được tế Tiên Công ở miếu, về sau cả những cụ bà đạt đến tuổi thượng thọ cũng được con cháu tổ chức nghi lễ này, tục này vẫn duy trì cho tới ngày nay.

Cùng ngày, tại khu vực miếu Tiên Công, từ 11 giờ trưa làm lễ dâng hương. Xưa, là lễ dâng cúng tứ xã. Nay Tứ xã tổ chức tế Tiên Công, lãnh đạo huyện dâng hương, con cháu và nhân dân trong vùng cũng đến miếu Tiên Công để lễ tổ. Ngày nay, mồng 6 tết cũng là ngày để cáccụ thượng thọ lên lễ ở miếu Tiên Công, nếu gia đình các cụ Thượng không tổ chức rước cụ vào ngày mồng 8 tháng Giêng, ngày chính hội lễ của nhân dân trong khu vực và khách thập phương về dự lễ hội Tiên Công. Trong đoàn đưa cụ Thượng lên lễ Tiên Công, đi đầu là hai cháu gái hoặc con gái, con dâu cụ Thượng đội hai mâm lễ vật, một mâm gồm có bánh dày, trầu cau, một chai rượu trắng, một con gà luộc; một mâm là mâm ngũ quả. Cụ Thượng chống gậy cùng con cháu, họ tộc, bà con làng xóm đi sau 2 mâm lễ vật. Đến đền Tiên Công, người con trưởng thắp hương cho cụ Thượng lễ Tiên Công.

Các hoạt động trong phần hội cũng bắc đầu được tổ chức từ chiều và tối cùng ngày với các hoạt động: Chơi đu, chọi gà, đấu vật, cờ thẻ, cờ người, hát đúm và một số hoạt động vui hội khác quanh khu vực đền Tiên Công.

+ Ngày mồng 7, ngày chính hội:

Như phần trên đã nêu, trong ngày mồng 6 Tết, các gia đình có người thượng thọ đã tiến hành làm cỗ cáo yết Tiên Công ở đền Tiên Công và cỗ khao thượng thọ ở gia đình. Các cụ thượng thọ mà gia đình không có điều kiện tổ chức đoàn rước, cũng lên lễ tại đền Tiên Công. Còn các cụ Thượng được gia đình và dòng họ tổ chức rước thì tiến hành lễ rước lên đền Tiên Công ngay từ 5 giờ sáng ngày mồng 7 Tết.

Rước thọ và lễ hội Tiên Công: Sáng sớm ngày mồng 7 Tết, từ 5 giờ, các gia đình có cụ thượng thọ đã bắt đầu khởi hành đoàn rước. Đi đầu đoàn rước là ba người đóng giả các chú tễu múa gậy, múa quạt làm nhiệm vụ dẹp đường, tiếp sau là đội trống cà rồng não bạt gồm: trống cái, trống con, thanh la, não bạt, mõ. Đi sau đoàn trống cà rồng là hai hàng cờ ngũ sắc do năm nam thanh niên đầu quấn khăn đỏ, lưng áo thắt đai (khăn xanh) hoặc năm nữ thanh niên, đầu vấn tóc mặc áo dài tứ thân, tay dương cao cờ ngũ sắc để điều hành đoàn rước. Đó là 5 màu cờ dùng để báo hiệu sự di chuyển của đoàn rước. Nếu cờ vàng được giương phất lên nghĩa là đám rước dừng lại, nếu cờ xanh được giương phất lên thì đoàn rước đi về hướng Đông và cờ xanh đi đầu. Cờ tím giương phất lên thì đoàn rước đi về hướng Tây và cờ tím đi đầu. Nếu cờ trắng được giương phất lên thì đoàn rước đi về hướng Bắc và cờ trắng đi đầu. Nếu cờ đỏ được giương phất lên thì đoàn rước đi về hướng Nam và cờ đỏ đi đầu. Vì các đoàn rước các cụ thượng thọ từ khắp các ngả đường làng, xã đều tập trung quy tụ về đền Tiên Công trong cùng một ngày, cùng thời điểm. Vì các đường làng chật kín người xem rước, nên các đoàn rước cụ Thượng phải nhìn cờ của nhau để điều chỉnh đi nhanh hay chậm. Đoàn rước cụ Thượng đi sau cứ nhìn cờ đoàn đi trước mà điều chỉnh đoàn rước của mình. Đi sau hàng cờ ngũ sắc là hai hàng bát bảo (bát bửu) do mười nữ tú đầu vấn khăn mỏ quạ hai dải khăn thắt phía sau gáy, mặc trang phục áo dài tứ thân, chân đi giày vải, đi nghiêng người, hai hàng quay mặt đối diện nhau. Đi sau hai hàng bát bảo là đội nhạc bát âm, các nhạc công đội khăn xếp, mặc áo lương (áo dài theo đen) vừa đi vừa chơi khúc nhạc "Lưu thuỷ hành vân". Đi sau đội nhạc bát âm là những người con gái hoặc dâu hoặc cháu gái nội cụ Thượng đội hai mâm lễ vật dâng Tiên Công gồm: một mâm có chai rượu trắng, một buồng cau, một ít lá trầu, bánh dày hoặc bánh chưng, một con gà luộc hoặc thịt lợn (thủ lợn và đuôi lợn cài ngang hàm) và một đĩa muối. Một mâm ngũ quả. Kế sau hai mâm lễ vật là một án gian (hương án) do 8 thanh niên đầu quấn khăn đầu rìu, mặc áo thắt đai màu đỏ, là họ hàng cụ Thượng khiêng. Trên án gian bày một con long mã được làm bằng hoa, quả, lá, dây móc; một mâm ngũ quả, hai lộc bình cắm hoa đào hoặc cúc vạn thọ, thắp nhang. Sau án gian, người ta rước chữ thọ được viết trên khung giấy hoặc khung vải lụa, tranh vẽ Phúc - Lộc - thọ. Kế hai bên là hai câu đối chúc thọ. Võng đào của cụ Thượng đi liền sau chữ Thọ, võng đào được tết bằng các sợi dây đay nhuộm màu đỏ, võng được trải vải sa tanh, vải lụa hoặc vải nhiễu in hình chữ Thọ, hai đầu võng được mắc vào một đòn rồng sơn son thếp vàng do bốn thanh niên khiêng và một thanh niên đi bên cạnh che lọng, bên kia là một cháu (chắt) nội trai của cụ Thượng mang điếu theo hầu. Cụ Thượng mặc áo xa tanh xanh hoặc vàng có thêu chữ Thọ trước ngực áo.

Kiệu cho các cụ bà thượng thọ, được làm giống kiệu Long Đình, sơn son thếp vàng đặt trên hai đòn rồng cũng sơn son thếp vàng. Tám thanh niên quấn khăn đầu rìu, mặc áo thắt đai lưng khiêng kiệu, một thanh niên đi cạnh cầm lọng che. Các cụ thường mặc áo thọ, cụ ông đội khăn xếp, tay cầm gậy, cụ bà đầu đội khăn nhung tay cầm gậy. Thường là các cụ Thượng cầm gậy đi bên cạnh võng đào hoặc đi bên cạnh kiệu. Cũng có cụ ông sức khoẻ yếu, nằm trên vòng đào cho con cháu khiêng; Hoặc cụ bà yếu, ngồi trên kiệu cho con cháu khiêng. Người con trưởng hoặc dâu trưởng đi cạnh cụ Thượng. Đi sau là các anh em nội thân, con cháu cụ Thượng cùng với gia tộc mặc quần áo đẹp, đưa cụ Thượng lên lễ đền Tiên Công. Chiếc kiệu chỉ là hình thức thể hiện sự kính trọng của người đã được trời ban tuổi "thiên tước". Con cháu cụ Thượng còn bưng cơi trầu mời bà con đứng xem rước ở hai bên đường. Dọc đường đi từ nhà cụ Thượng đến đền Tiên Công, các con rể của cụ Thượng còn làm các quán nhỏ bên lề đường, quán thường được làm bằng vải như kiểu lều trại, được trang trí câu đối mừng thọ, cành đào, có bàn uống nước. Khi đoàn rước cụ Thượng đi qua quán, người con rể nghênh đón mời cụ Thượng vào quán nghỉ chân, con rể chúc thọ cụ Thượng. Căn cứ vào thời gian mà các đoàn rước cụ Thượng đi nhanh hay đi chậm, thường là đi theo quy định "tiền tam hậu nhị". Đi một nhịp chân, tức là đầu đoàn rước trống cái đánh 3 tiếng (tùng- tùng- tùng), người cầm trống khẩu đi sau sẽ đánh 2 tiếng (tung - tung), thì cả đoàn rước đi một nhịp chân bước. Mỗi bước chân có thể

Ngày mồng 5, mồng 6 tháng giêng là những ngày chuẩn bị cho lễ hội, các trai tráng ở các làng, các giáp chuẩn bị xới chọi trâu ở đượng Nhọ Nồi gần miếu, xới chọi gà, giúp người già có kinh nghiệm trồng cây đu, nhiều gia đình cũng chuẩn bị ác trò chơi ở khu vực gần Miếu như thả vòng cổ chai, cờ tướng....Cánh thanh niên nam nữ, các ông bà trung tuổi có giọng hát hay thì luyện tập hát đúm để ngày hội hát đúm với các làng, thi hát với người chơi hội ở Thuỷ Nguyên, Hải Phương. Chiều ngày mồng 6 các cụ Tiên thứ chỉ của các làng Yên Đông, Phong Cốc, Cẩm La và các dòng họ làm lễ Yết tại miếu thờ. Sau đó họp bàn cắt cử chủ tế, bồi tế, đông xướng, tây xướng và những người chấp sự của đoàn tế tứ thôn. Và các buổi trưa ngày mồng 7 tháng giêng, thường là những người trong đội tế của các dòng họ, am hiểu nghi thức, nghi lễ của một cuộc tế. Riêng chủ tế được bình chọn kỹ lưỡng từ trước. Chủ tế thường được chọn luân phiên hàng năm giữa các thôn Yên Đông, Phong Cốc, Cẩm La, Trung Bản. Chủ tế phải là người cao tuổi, có sức khỏe, không có tang trở, vợ chồng song toàn, con cái phương trưởng, có nếp có tẻ (có nam có nữ) gia đình hoà thuận, ăn ở đức độ, có uy tín với làng xã. Người được chọn làm chủ tế thì con cháu làm mâm cỗ ra từ đường dòng họ cáo với Tiên Tổ và đến miếu tạ Tiên Công. Chiều mồng 6, các cụ Tiên thứ chỉ còn điểm lại các cụ ông, cụ bà tròn 80, 90 tuổi , 100 tuổi ở các làng, chọn ra các cụ ông tiêu biểu để đắp đê tượng trưng, đánh vật ở sân Miếu Tiên Công sau đó chỉ huy thanh niên đắp một con đê bằng đất tượng trưng ở cửa Miếu để các cụ thượng thọ đắo đê tượng trưng trong ngày hội mồng 7.

Ngày mồng 6 tháng giêng các cụ bà, cụ ông tròn 80 tuổi, 90 tuổi, 100 tuổi đều được con cháu trong gia đình làm lễ mừng thọ tại gia đình. Thường thì từ chiều mồng 5 hoặc mồng 6, gia đình cụ Thượng thọ đều căng rạp ngoài sân có bàn ghế cho con cháu và khách đến mừng thọ xơi nước, rượu, bánh kẹo gọi là hưởng lộc cụ thượng. Ở cửa nhà có trang trí bàn thờ và nơi cụ thượng thọ ngồi, thường là cách bài trí như sau:

Phía trên cửa chính là bức đại tự: “Đăng thọ tịch” (ngồi chiếu thọ). Hai bên có các câu đối mong ước tuổi thọ, chúc thọ mừng xuân cầu phúc...

Phía dưới chính là án gian: bày mâm ngũ quả và con Long Mã. Phía sau án gian là cành đào ngày tế, phía trước án gian có chậu hoa cúc đại đoá, chậu quất cảnh, chậu thiên tuế. Bên cạnh án gian là ghế ngồi của cụ thượng thọ, phía sau chỗ ngồi thường có chữ Thọ đỉnh, nhiều trường hợp song thọ (cả cụ bà và cụ ông đều thọ 80, 90, 100 tuổi) thì đều có ghé thọ ở hai bên án gian. Phía trước án gian cạnh ghế ngồi cụ Thượng có bàn nhỏ đặt lễ vật của những người đến mừng thọ. Cụ thượng được con cháu sắm cho khăn xếp, áo thọ làm bằng vải lụa, the, hoặc sa tanh có in chữ thọ. Lễ mừng thọ ở gia đình thường diễn ra vào buổi sáng hoặc chiều ngày mồng 6 tháng giêng: Cụ Thượng vào bàn thờ gia tiên thắp hương lễ tiên tổ rồi ra ngồi trên ghế thọ. Con cháu xa gần, dòng tộc, láng giềng ngồi ở bàn ghế trong sân rạp. Người con trưởng lên đọc văn truy ơn cha mẹ, hứa với cha mẹ giữ chọn đạo hiếu, đoàn kết trong gia đình, dòng tộc và xóm giềng, nuôi dậy con cháu tốt, phát triển kinh tế gia đình, cám ơn con cháu, họ hàng, lối xóm đến mừng thọ cụ Thượng. Sau đó người con trưởng đến lễ sống cụ Thượng. Tiếp theo đó lần lượt các anh em trong thân tộc, con cháu, bạn bè vào lễ sống cụ Thượng, chúc thọ cụ Thượng mạnh khoẻ lâu và mừng cụ Thượng , thường là mừng rượu, hoa quả, bánh trái. Cụ Thượng phát lộc cho người vừa mừng thọ cụ, thường là cái bánh, quả cam, quả táo....Con cháu cụ Thượng mời khách khứa, bạn bè sau khi mừng thọ ngồi lại ăn trầu, bánh kẹo, uống nước gọi là hưởng lộc cụ Thượng. Gia đình khá giả thì làm cỗ mời khách, người thân và con cháu. Thường là từ chiều đến đêm ngày mồng 6, họ hàng thân thích, con cháu tấp nập đi chúc thọ cụ Thượng, cả một vùng quê náo nhiệt không khí của đêm Hội Tiên Công.

Le hoi tien cong

Ngày mồng 7 tháng giêng- ngày chính Hội.

Đa số gia đình cụ Thượng thọ không tổ chức thành đoàn rước cụ Thượng, chỉ tổ chức đưa cụ Thượng lên miếu Tiên Công để lễ tiên tổ. Đi trước là một cháu gái mặc áo tứ thân, vấn tóc đội lễ. Lễ gồm có rượu trắng, trầu cau, bánh dày và một miếng thịt lợn sống. Đi sau là cụ Thượng (cụ ông hoặc cụ bà) mặc áo thọ, tay chống gậy. Đi sau là con cháu nội thân trong gia đình, con cháu còn mang cả cơi trầu mời khách đứng xem hội. Khi đến miếu Tiên Công, các cụ Thượng tập kết ở nhà Nghi Môn bên ngoài, chờ sau Lễ tế tứ thôn mới vào lễ Tiên Công.

Những gia đình có điều kiện sẽ cùng với các cụ họ và làng xóm tổ chức đoàn rước đưa cụ Thượng lễ Tiên Công. Có chuẩn bị các đồ nghi tượng, trang phục từ mấy hôm trước.

 Trình tự một đoàn rước thường như sau: Đi đầu đoàn rước là đội trống cà rồng não bạt gồm: trống cái, trống con, thanh la, não bạt, mõ, đi trước có ba chú phễu múa gậy, múa quạt làm nhiệm vụ dẹp đường. Đi đầu đoàn trống cà rồng là hai hàng cờ ngũ sắc do năm nam thanh niên đầu quấn khăn, lưng thắt đai hoặc năm nữ tú đầu vấn tóc mặc dài tứ thân cầm cờ. Cờ vàng đi đầu nghĩa là đám rước dừng lại; đoàn đi về hướng Đông thì cờ xanh đi đầu; đi về hướng Tây thì cờ tím đi đầu; đi về hướng Bắc thì cờ trắng đi đầu; đi về hướng Nam thì cờ đỏ đi đầu. Các đường làng chật kín người đi xem rước, các đoàn rước cụ Thượng khác đi sau cứ nhìn cờ đoàn đi trước mà điều chỉnh đoàn rước của mình đi nhanh, đi chậm hay dừng lại. Đi sau hai hàng cờ là hai hàng Bát Bửu do mười nữ tú đầu vấn khăn, mặc áo dài tứ thân, chân đi giày vải, đi nghiêng người, mặt quay vào hàng đi đối diện. Đi sau hai hàng Bát Bửu là đội nhạc nhị huyền bát âm, các nhạc công đội khăn xếp áo lương, vừa đi vừa thổi điệu “Lưu thuỷ hành vân”. Đi sau đội nhạc bát âm là một người con hoặc cháu gái cụ Thượng đội mâm lễ vật lễ Tiên Công. Lễ vật ngày xưa chỉ gồm một trai rượu trắng, một buồng cau –trầu, bánh dày hoặc bánh chưng, một miếng thịt lợn, một đĩa muối. Đi sau mâm lễ là một án gian trên có con Long mã ( miêu  tả ở trên), mâm ngũ quả, hai độc bình cắm hoa đào, hoa cúc vạn thọ. Tám thanh niên đầu quấn khăn rìu, thắt lưng đai, khênh án gian. Đi sau án gian là võng đào cụ Thượng( cụ ông) hoặc kiệu của cụ bà thượng thọ (Kiệu thường được làm cho các cụ bà thượng thọ, kiệu làm giống kiểu kiệu Long Đình sơn son thếp vàng đặt trên đôi đòn rồng sơn son thếp vàng. Võng đào của cụ ông được tết bằng các sợi đay nhuộm màu, võng được mắc vào một đòn rồng. Kiệu của cụ bà hoặc võng đào của cụ ông có tám thanh niên đầu quấn khăn, thắt lưng đai khênh, một thanh niên đi bên cạnh cầm lọng che. Các cụ thượng mặc áo thọ, cụ ông đội khăn xếp tay cầm gậy, cụ bà đầu đội khăn nhung tay cầm gậy. Thường là các cụ thọ cầm gậy đi bên cạnh võng đào hoặc đi bên cạnh kiệu. Cũng có cụ ông chân yếu nằm lên võng đào con cháu khênh. Người con trưởng hoặc dâu trưởng đi cạnh cụ Thượng còn có cháu trai bưng điếu bát hoặc cháu gái bưng cơi trầu. Đi sau là các anh em nội thân, con cháu cụ Thượng cùng với gia tộc mặc quần áo đẹp đưa cụ Thượng lên miếu lễ Tiên Công. Dọc đường đi từ nhà cụ Thượng lên miếu Tiên Công, các con rể của cụ Thượng còn làm các quán nhỏ bên lề đường, quán thường được làm bằng vải như kiểu lều trại, “quán” được trang trí câu đối mừng thọ, cành đào, có bàn uống nước. Khi đoàn rước cụ Thượng đi qua “quán”, người con rể nghênh đón mời cụ Thượng và quán nghỉ chân, con rể chúc thọ cụ Thượng. Căn cứ vào thời gian mà các đoàn rước cụ Thượng đi nhanh hay đi chậm, thường là đi theo quy định “tiềm tam hậu nhị”: đi một nhịp chân, tức là đầu đoàn rước trống cái đánh ba tiếng tùng....tùng.....tùng, người cầm trống khẩu đi sau sẽ đánh hai tiếng: tung....tung, thì cả đoàn rước đi một nhịp chân bước. Mỗi bước chân có thể ngắn dài, nhung khi đoàn rước đến khu vực Miếu Tiên Công thường đi mỗi bước một bàn chân. Khi các đoàn đưa cụ Thượng hoặc đoàn rước cụ Thượng đến miếu Tiên Công, con cháu đưa mâm lễ vật cùng các cụ Thượng ngồi nghỉ ở nhà Nghi Môn phía ngoài sân để dự Lễ tế tứ thôn.         Khoảng 12 giờ trưa, đoàn tế của bốn thôn bắt đầu nghi lễ tế Tiên Công. Ban tế tứ xã tế xong mới được vào dâng lễ vật và lễ. Con cháu đưa mâm lễ vật vào đặt ở nơi làm lễ. Người con trưởng thắp nhang (hương) để cụ Thượng lễ Tiên Công. Thường mỗi cụ Thượng khi vào lễ đều được cụ tiên thứ chỉ của xã đọc một bài văn ngắn ca ngợi phúc đức tổ tiên, kể công lao của người thượng thọ và chúc cụ Thượng đó sống lâu, chúc dòng họ có cụ Thượng làm ăn phát đạt để có nhiều người được hưởng tuổi trời cho. Khi lễ Tiên Công xong, gia đình được mang một phần lễ vật về, phần còn lại góp với xã khao dân làng. Sau tất cả các nghi lễ ở đền Tiên Công, trình tự đoàn rước đưa cụ Thượng về nhà như khi đi. Rước vào đền Tiên Công bằng đường bên phải, rước về bằng đường bên trái.

Nghi lễ động thổ: Khi các cụ Thượng lễ Tiên Công xong, hàng xã mời bốn cụ Thượng còn khoẻ ra trước cửa đền Tiên Công (bốn cụ Thượng đã được lựa chọn từ trước) làm nghi lễ "vượt thổ" (đắp đê). Dân làng đã đắp sẵn một con đê nhỏ tượng trưng ngay trước cửa đền, các cụ Thượng được con cháu và dân làng đưa cho những tảng đất đã được xẻ vuông vắn đặt trước bàn thờ Tiên Công để đắp lên "khúc đê" trước đền. Đây gọi là lễ động thổ, sau lễ này các gia đình, làng xã mới được đào mương, bồi đê, cày cấy ruộng vườn, thậm chí, những gia đình có người mất vào những ngày tết cũng phải chờ qua lễ động thổ này mới dám tổ chức lễ tang và đào huyệt. Nếu ai vi phạm, trong năm đó làng xã có xảy ra việc gì, sẽ bắt phạt.

Nghi thức đấu vật: Sau khi làm nghi lễ "động thổ" (vượt thổ), các cụ Thượng tiếp tục thực hiện nghi thức "đất vật" (đấu vật tượng trưng). Các cụ Thượng quấn chỉ vào cổ tay nhau và ôm nhau quay một hai vòng, cụ nào khoẻ nhấc bổng cụ thượng kia lên khỏi mặt đất là cụ thượng ấy thắng cuộc. Đây là cuộc "đấu vật" có một không hai trong các hội vật trong vùng Bắc bộ( xa xưa các cụ Thượng còn cởi trần đóng khố như vào sới vật thực thụ. Các cụ Thượng cởi trần đóng khố vào đấu trường trong tiếng reo hò động viên của nhân dân và đặc biệt là của đoàn cổ động viên là con, cháu, chắt và bà con trong họ. Các bô lão làm theo các bản quy định với các miếng võ thường lệ. Ở lứa tuổi thượng thọ này, đủ sức để vào sới vật, dù là tượng trưng, đã là điều phi thường, vậy mà các bô lão còn giành hơn thua trên đấu trường, để giáo dục con cháu vừa lao động vừa sinh hoạt văn hoá. Các cụ thắng cuộc thì dòng họ và gia đình vẻ vang và biểu thị sự trường tồn, trường sinh của dòng giống.

Nghi thức đấu vật là để biểu trưng sức khoẻ của những người quai đê lấn biển, lập đất, lập làng, lập nên vùng đảo Hà Nam. Người dân ở đây cũng tin rằng, với nghi thức này, các cụ sẽ ban sức khoẻ cho con cháu.

Sau các nghi lễ tế tổ, nghi lễ động thổ đắp đê, nghi lễ đánh vật; các nghi thức và nghi lễ tế Tiên Công xem như được hoàn thành. Các gia đình họ tộc rước cụ Thượng về nhà, thứ tự đoàn rước như lúc rước đi. Xung quanh khu vực Miếu Tiên Công các trò chơi trong ngày hội được tổ chức từ chiều hôm trước vẫn được tiếp tục cho tới ngày mùng bảy ngày chính hội.

Cùng với nghi thức lễ tế Tiên Công, xung quanh khu vực đền Tiên Công diễn ra các hoạt động như: đấu cờ người, chơi đu, bài điếm, chọi gà, hát đúm và một vài trò vui khác.

   Ngày nay, ngoài các trò chơi trong lễ hội Tiên Công, người ta còn tổ chức biểu diễn nghệ thuật quần chúng của địa phương trong buổi tối ngày hôm trước, sáng ngày chính hội và buổi tối mồng 7 tháng giêng (giã hội).

Sau lễ hội Tiên Công, dân vùng đảo Hà Nam mới thực sự bước vào mọi hoạt động của năm mới: Cày cấy, gieo trồng, mua con giống, ra khơi đánh cá, bồi đê, khơi mương máng, đi buôn bán,… và người dân ở đây thực sự tin rằng sau khi tế Tiên Công, họ đã được phù trợ, được tiếp thêm sức mạnh để tiếp tục sự nghiệp mà các Tiên Công đã để lại.

Sau đó ban khánh tiết mời các cụ Thượng làm nghi lễ đắp đê, Ban khánh tiết đã chuẩn bị sẵn một số hòn đất được xẻ vuông vắn, mỗi cụ bê một hòn đất đắp vào con đê tượng trưng đã đắp sẵn ở cửa miếu. Sau đó Ban khánh tiết mời hai cụ Thượng (cụ ông) còn khỏe mạnh đánh vật tượng trưng, thường là hai cụ chỉ làm động tác quấn chỉ rồi ôm nhau ngã xuống xới vật, xới vật là chiếu trải trên rơm rạ được Ban khánh tiết chuẩn bị sãn. Sau nghi lễ đánh vật, con cháu cụ Thượng đưa hoặc rước cụ Thượng về nhà như nghi thức rước đi. Quanh khu vực miếu Tiên Công trong suốt buổi sáng ngày mồng 7 diễn ra các hoạt động vui chơi như: chọi trâu, chọi gà, chơi đu, chơi cờ người, (người cầm quân cờ có tổ chức thi chọn tướng ông, tướng bà), tổ tôm điếm, hát đúm (có hát đúm của thanh niên nam nữ, hát đúm của người trung tuổi, vui nhất là hát đúm thi với thanh niên Thuỷ Nguyên, Hải Phòng), chơi cờ tướng bằng thẻ và các trò chơi dân gian khác. Các đường làng ngõ xóm của xã Phong Lưu và khu vực miếu Tiên Công chật cứng người xem hội. Đến 3 giờ chiều Hội tan.

Lê Hội Tiên Công nay

Trước kia con cháu thập cửu Tiên Công chưa đông như ngày nay, năm 1471 thời vua Lê Thánh Tông, các quan triều đình về kiểm kê dân số của các thôn Phong Cốc, Cẩm La, Yên Đông, Trung Bản mới có 647 người. Khi lập miếu thờ Tiên Công, các cụ Thượng thọ còn ít, do vậy các cụ Thượng được con cháu rước đến Miếu Tiên Công tập trung ở nhà Nghi Môn, đến giờ Ngọ tứ xã tổ chức tế Tiên Công, sau lễ tế các cụ thượng mới vào Nhà thờ Tổ lễ Tiên Công. Xưa kia Miếu Tiên Công xây dựng theo lối nội công ngoại quốc. Từ ngoài vào là Nghi Môn được xây ba gian hai trái, bốn mái có đầu đao, mái lợp ngói mũi hài, tường xây bằng đá xanh. Đi qua nhà Nghi Môn là sân Miếu Tiên Công ở giữa có một đường chính đạo đi thẳng tới Nhà thờ Tổ xây ba gian, lợp ngói, bít đốc. Đã từ lâu Nghi Môn bị hỏng sập vào những năm 1960. Năm 1989 miếu Tiên Công được trùng tu làm lại nhà bái đường. Để đáp ứng số lượng cụ Thượng thọ ngày càng nhiều về miếu lễ Tiên Công, nhà Bái đường được làm sát với Nhà thờ Tổ. Ngày nay lễ hội Tiên Công cơ bản vẫn giữ được nhiều nghi lễ và và trò chơi truyền thống của lễ hội trước đây. Do nhiều yếu tố như kinh tế phát triển sự giao lưu văn hoá, số lượng cụ Thượng thọ nhiều hơn v.v... nên lễ hội mất đi nhiều nghi thức có ý nghĩa giáo dục văn hoá và lao động: như nghi lễ đắp đê, đánh vật, tế tứ xã trong ngày chính hội. Lễ vật lễ Tiên Công trước đây là rượu trắng, trầu cau, bánh chưng, bánh dày; ngày nay nhiều nhà thay bằng nhiều loại rượu ngoại, bánh kẹo, hoa quả, đầu lợn. Trước đây khách đến mừng thọ cụ Thượng xong thì chủ yếu ngồi uống nước, xơi trầu với gia chủ, ngày nay được thay cỗ bàn;  nhiều trò chơi dân gian như: hát đúm, chọi trâu, tổ tôm điếm nay vắng bóng thay bằng những hoạt động thể thao, văn nghệ hiện đại hơn.

Lễ hội Tiên Công là một lễ hội độc đáo của khu đảo Hà Nam, tất cả các phần lễ và phần hội đều do nhân dân trong vùng tự tổ chức. Người dân trong vùng đi  hội, vừa là người xem vừa người tham gia các hoạt động hội. Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp nhận những tinh hoa của văn hoá thế giới làm giàu bản sắc văn hoá Việt Nam đối với lễ hôi Tiên Công của vùng đảo Hà Nam đang được các cấp chính quyền và nhân dân địa phương dần phục hồi các nghi lễ và các trò chơi dân gian truyền thống.