Chào mừng quý khách đến với trang thông tin du lịch thị xã Quảng Yên - tỉnh Quảng Ninh

Thông tin dịch vụ

thu tuc hanh chinh

dich vu cong

 logo copy copy

 hotline

dich vu ta xi

Tiêu điểm

hinhanhthi 

Doanh nghiệp quảng bá

fancy

vantruong logo

 

 

Video

Liên kết website

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:

www.bvhttdl.gov.vn

Tổng cục du lịch 

vwww.vietnamtourism.gov.vn

Ban xúc tiến đầu tư QN

www.investinquangninh.vn

Du lịch Hạ Long:

www.halongtourism.com.vn

Cổng TTĐT thị xã Quảng Yên:

www.quangyen.quangninh.gov.vn

 Báo Quảng Ninh:

www.baoquangninh.com.vn

 Khu du lịch Tuần Châu:

www. tuanchau-halong.com.vn

Du lịch đảo Cô Tô:

www.coto.gov.vn

Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay74
mod_vvisit_counterHôm qua245
mod_vvisit_counterTuần này74
mod_vvisit_counterTuần trước1838
mod_vvisit_counterTháng này6675
mod_vvisit_counterTháng trước6916
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ174473
Địa chỉ IP của bạn 172.69.62.81

Làng nghề Đóng tàu thuyền võ gỗ Cống Mương

 

 

Đảo Hà Nam thị xã Quảng Yên x­ưa kia là một bãi triều lớn ở cửa sông Bạch Đằng. Khi nư­ớc triều lên, cả bãi bồi ngập nư­ớc mênh mông, chỉ nổi lên một số đượng đất cao trên triều ở khu Hưng Học, Hải Yến, Yên Đông, Phong Cốc, Cẩm La, Trung Bản, Quỳnh Biểu, Lưu Khê, Vị Dương, Vị Khê. Từ thời Lý - Trần đã có một số vạn chài đến vùng đất này sinh sống, họ đã dựa vào những đượng đất cao trên triều để dãi chài, phơi lư­ới. Khoảng từ năm 1434 đến 1500, có nhiều nhóm Tiên công và dân cư đến quai đê lấn biển, khẩn hoang đất đai trồng lúa, lập làng, tạo nên khu đảo Hà Nam. Theo bia ký và gia phả của các dòng họ Tiên công lập nên xã Phong Lưu ghi lại vào năm 1434, có 17 vị Tiên công là ng­ười cùng quê ở phường Kim Hoa (nay là phư­ờng Kim Liên), huyện Thọ Xư­ơng, phủ Hoài Đức, phía nam thành Thăng Long (nay là Hà Nội). Họ là những ngư­ời lao động, những kẻ sỹ, sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp và đánh cá ven hồ, ven sông Kim Ngưu ở Thăng Long. Năm 1434 vua Lê Thái Tông mở rông kinh đô Thăng Long tới đất Kim Liên. Hướng ứng lời kêu gọi khai canh lập ấp mới của Lê Thái Tông, nhiều quan lại và các dòng họ nơi đây đã rời bỏ quê hương đến miền đất xa để khai phá. Mư­ời bảy vị Tiên công cùng gia đình xuôi theo dòng sông Hồng ra cửa sông Bạch Đằng cắm thuyền tìm đất. Lúc đầu họ ở trên thuyền, sống bằng nghề đánh bắt cá, dãi chài phơi lưới trên các đượng đất cao trên triều ở vùng cửa sông Bạch Đằng. Vào một đêm, họ lên trú ở một gò nổi của bãi triều, nghe thấy tiếng ếch nhái kêu, biết là ở nơi này có nư­ớc ngọt, các Tiên công đã tìm thấy mạch nước ngọt trên một đượng đất cao trên triều giữa, xung quanh là nước mặn (sau gọi là Hồ Mạch). Mười bảy vị Tiên công quyết định cùng gia đình lên bãi triều này khẩn hoang đất đai, cải tạo thành ruộng lúa, lập làng, vừa trồng lúa vừa đánh bắt hải sản. Đầu tiên lập nên phường Bồng Lưu, sau đổi thành xã Phong Lưu gồm ba thôn: Phong Cốc, Cẩm La, Yên Đông (nay là xã Phong Cốc, xã Cẩm La và làng Yên Đông, xã Hải Yến).

langnghedautau1

Mười bảy vị từ kinh thành Thăng Long và gia đình đến khai khẩn vùng đảo Hà Nam lập nên xã Phong Lưu là: Vũ Song (hiệu sinh), Vũ Hồng Tiệm (hiệu sinh), Bùi Huy Ngoạn (hiệu sinh), Ngô Bá Đoan, Nguyễn Phúc Cốc, Nguyễn Phúc Thắng, Nguyễn Phúc Vĩnh, Lê Khép, Lê Mở (Quốc Tử Giám sinh), Vũ Tam Tỉnh (Quốc Tử Giám sinh), Vũ Giai (Quốc Tử Giám sinh), Nguyễn Nghệ (Quốc Tử Giám sinh), Nguyễn Thực (Quốc Tử Giám sinh), Bùi Bách Niên (Quốc Tử Giám sinh), Phạm Việt, Dư­ơng Quang Tín, Dương Quang Tấn.

Thời gian sau, dân số phát triển nhiều lên, do các gia đình sinh thêm ng­ười và thêm nhiều ng­ười từ nơi khác đến ngụ cư. Những ng­ười khai hoang đã tụ họp lại lập nên phường Bồng Lưu, sau đổi thành xã Phong Lưu gồm ba thôn: Cẩm La, Phong Cốc và Yên Đông. Họ cùng lập miều thờ thập thất Tiên công ở thôn Cẩm La. Năm Thành Thái thứ 2 (1890), vua Thành Thái chia xã Phong Lưu thành bốn xã: xã Phong Cốc, xã Cẩm La, xã Yên Đông, xã Trung Bản. Ngày 23-6-1964, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 170-NV phê chuẩn việc chia xã Phong Cốc thuộc huyện Yên Hưng thành hai xã Phong Cốc và xã Phong Hải.

        Đảo Hà Nam có đặc điểm bốn bề sông nước, bên trong đảo lại có sông ngòi dày đặc, việc đi lại, chuyên chở vật liệu bằng đường thủy là hết sức quan trọng, cần thiết. Mặt khác đảo Hà Nam nằm giữa cửa sông Bạch Đằng, giáp biển, với nhiều bãi bồi hình thành nên nhiều sông ngòi chằng chịt ở cửa sông cửa biển, nên khi di chuyển trên sông, biển có lúc xuôi nước, xuôi gió; có lúc lại ngược nước ngược gió. Để đáp ứng và thích nghi với tự nhiên để sinh tồn, các Tiên công ở xã Phong Lưu đã sáng tạo ra con thuyền gỗ ba mảnh chạy bằng buồm cánh dơi, có bánh lái mũi, bánh lái lòng chạy được cả khi ngược nước ngược gió để di chuyển trên sông biển trong mọi điều kiện ngược nước ngược gió.

Ở xã Phong Lưu xưa (nay là phường Phong Hải) có đền thờ Tổ nghề đóng thuyên gỗ. Pử đền thờ có một tấm bia đá khắc năm Tự Đức thứ 28 (1865) ghi lại sự kiện xây đền thờ Thánh sư tổ nghề đóng thuyền gỗ ở xã Phong Lưu. Nội dung tấm bia đá khắc chữ Hán tạm dịch như sau: “Thường nghe: trăm nghề phải có thầy, nghề đóng thuyền cũng thế. Dân lợi do có thuyền bè lưu thông, thật là ân trạch của bậc tiền bối truyền thụ cho cái tinh xảo đó.

Tháng 9 năm Tự Đức thứ 28 (1865), Tượng tượng mục Lê Kỳ Đoài hội họp thợ thuyền tại phía đông đình Đăng Cốc, đó là nơi thờ tự tổ nghề. Khâm mệnh quan tỉnh Hồ Đại nhân lo liệu nên chọn được đất tốt chuyển về đây để xây đền thờ tổ nghề đóng thuyền. Mong các vị tiền bối truyền thụ kỹ nghệ đóng thuyền.

Vũ Công hiệu Đình Nghiêm, Vũ Công hiệu Đình Vân, Nguyễn Tiến Sĩ hiệu Phúc Đức, Lê Công Dự cùng ký”.

langnghedongtau2

 Tư liệu về tên các Tổ nghề cũng như năm ra đời của nghề không còn, nhân dân địa phương không nhớ chính xác. Các thợ thuyền cao tuổi ở Phong Hải cho biết nghề đóng thuyền có cách đây khoảng trên 300 năm. Đền thờ Tổ nghề đã có từ trước ở vị trí khác, năm 1865 mới chuyển về vị trí này. Từ xưa tới nay thợ thuyền ở vùng này hầu hết là con cháu Tiên công ở dòng họ Nguyễn, họ Lê, họ Vũ. Hàng năm vào hai ngày mùng 10 tháng 2 và mùng 10 tháng 8 âm lịch, xuân thu nhị đình các hiệp thờ thuyền của làng nghề đến đền Thánh sư có lễ vật truy ơn Thánh sư tổ nghề, mong cho con cháu đời sau tinh thông nghề nghiệp, thuyền bè lưu thông, kinh tế phát triển.

 Ngày xưa các triều đại phong kiến đã cấp Bằng chế tạo thuyền cho các đội đóng thuyền của làng nghề. Dòng họ Nguyễn ở phường Phong Hải còn giữ được một bản Bằng sắc của Bố Chánh sứ họ Trịnh và Án sát sứ tỉnh Quảng Yên họ Lê cấp cho Đội thờ thuyền của ông Nguyễn Văn Phúc ở huyện Yên Hưng, nội dung tạm dịch nư sau: “Bố chánh sứ tỉnh Quảng Yên họ Trịnh và Án sát sứ tỉnh Quảng Yên họ Lê. Theo lời đề nghị của thợ thuyền lành nghề đội trưởng đội thợ thuyền ở huyện Yên Hưng. Xét thấy, đội thợ thuyền đã tập hợp được một sô đông người đóng thuyền bằng gỗ Đàn trắng nhiều năm, Các thợ thuyền tỏ ra cần cù, có trách nhiệm. Vậy nên cấp Bằng chế tạo thuyền cho đội thợ thuyền của ông tượng mục (người đứng đầu) Nguyễn Văn Phúc người huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Yên nhận trách nhiệm. Nếu không làm cần mẫn, nếu sai xót sẽ có quốc pháp. Thành Thái thất niên nhuận ngũ nguyệt sơ nhất nhật (ngày mùng 1 tháng 5 năm nhuận, năm 1895)”.

Các loại thuyền của làng nghề thường đóng là: các loại thuyền vận tải lớn, nhỏ đi trên sông biển; các loại thuyền đánh cá, tôm các loại lớn, nhỏ trên sông biển; các loại thuyền chở khách đò dọc, đò ngang; các loại thuyền nhỏ vận chuyển vật liệu trong đồng phục vụ sản xuất, sinh hoạt.

Đặc điểm các con thuyền làng nghề nơi đây đóng là thuyền ba vát, dân địa phương còn gọi là thuyền ba mảnh, thon mũi, thon lái. Thân thuyền được tạo ra do ghép ván thuyền, ván thuyền làm bằng nhiều loại gỗ khác nhau. Thuyền làm hình thon, tức là thon ở hai mũi, tạo thành một chóp nhọn. Tạo dáng thon cho thuyền tức là để tạo ra một lực để đẩy thuyền đi về phía trước, do tính thon mà sóng phía trước tác dụng vào thuyền sẽ rẽ ra hai bên và do đó lực cản phía trước sẽ nhỏ đi và thuyền sẽ đi nhanh. Đồng thời diện tiếp xúc với nước của thuyền ít, do đó khi có gió thì sẽ đẩy thuyền đi nhanh về phía trước.

 Vật liệu đóng thuyềnbằng gỗ Lim, gỗ Táu, gỗ Dẻ, gỗ Xăng lẻ. Những chiếc thuyền do người dân nơi đây chế tạo ra đã có độ bền cao, Kích thước và công năng rất linh hoạt tùy mục đích sử dụng, chuyển chở được khối lượng hàng hoá lớn. Đặc biệt các thuyền vận tải, đánh cá trên sông biển được sáng tạo hình dáng và các cấu kiện phụ trợ như Bánh lái mũi, Buồm mũi, buồm lái theo kiểu cánh dơi, các loại chèo, nụ hỗ trợ khi chạy làm cho con thuyền có thể đi xuôi nước xuôi gió; đi ngang nước ngang gió; đi ngược nước, ngược gió trên sông biển. Đây là những kiểu thuyền độc đáo nhất trong nước và trên thế giới chỉ có ở thị xã Quảng Yên. Không những thế, thuyền còn có hình thức đẹp, cân đối,  vững chãi. Nghề đóng thuyền đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân ở vùng đảo Hà Nam.

langnghedongtau

Trong quá trình sáng tạo nghề đóng thuyền ván, lâu đời đã hình thành nên lớp nghệ nhân để truyền dạy tại chỗ cho con cháu, nhân dân thường gọi ông phó đẽo. Nghề đóng thuyền kỹ thuật đẽo là quan trọng nhất. Dụng cụ đóng một con thuyền to hay nhỏ quan trọng nhất là Rìu, Cưa lá, Khoan dây và một số các dụng cụ khác. Khi ván đóng thuyền được đưa tới người thợ thuyền dùng dây phật mộc mảnh ván để lấy mực cho đường thẳng, đường cong, đường chéo, rồi dùng Rìu (Rìu có lưỡi bằng sắt tra vào đuôi bằng gỗ, lưỡi rìu được tra vuông góc với cán bằng gỗ). Người thợ thuyền dùng Rìu đẽo theo mực đã phật mộc, đẽo mạch vuông hay mạch chéo, đẽo thẳng hay đẽo vòng đều thẳng như cưa như bào. Kỹ thuật đẽo ván là một kỹ thuật khó, lâu dần trở thành kỹ xảo. Nhân dân gọi những người thợ thuyền giỏi là ông Phó đẽo. Ở Hà Nam những người thọ giỏi thường được nhân dân gọi thay tên bằng từ “Phó” như: ông thợ mộc giỏi gọi là Phó mộc, ông thợ nề giỏi gọi là ông Phó nề, ông thợ may giỏi gọi là ông Phó may.

Thấy ứng dụng thuận lợi của con thuyền ba vát chạy buồm cánh dơi, nhiều địa phương từ Thanh Hóa trở ra đều về đây đặt đóng thuyền kết hợp với nhu cầu của nhân dân địa phương, dần dần hình thành nhiều đội thuyền, ngày nay gọi là lán thuyền và nhiều thợ thuyền, từ đó hình thành các làng nghề đóng thuyền ven sông Chanh. Làng nghề đóng thuyền thôn Cống Mương (nay là khu 8) phường Phong Hải có 27 lán đóng thuyền với 409 Thợ thuyền; làng nghề đóng thuyền thôn Bến đò (nay là khu 7) phường Nam Hòa có 80 hộ tham gia làm nghề đóng tàu với 320 thợ thuyền.

Ngày nay công nghệ phát triển, người dân ít đóng thuyền ba vát chạy bằng buồm cánh dơi để vận tải hoặc đánh cá trên biển, mà thường đóng tàu chạy bằng máy thủy. Để đáp ừng nhu cầu này, các thợ thuyền làng nghề đã chuyển sang đóng cả tàu chạy máy thủy. Nhưng các thợ thuyền ở đây vẫn sử dụng các kỹ thuật và các kiêng kỵ trong đóng thuyền áp dụng vào đóng tàu như: mũi tàu thì mòi như các nơi, nhưng lườn tàu (đáy) và lái tàu vẫn làm lườn bằng, lái vuông như con thuyền, do vậy con tàu chạy trên sóng biển rất đằm và sức chở lớn hơn. Do vậy ngư dân và những người vận tải, du lịch từ Thành Hóa trở ra vẫn về làng nghề ở Quảng Yên đặt đóng tàu, thuyền. Do vậy các làng nghề đóng tàu thuyền ở thị xã Quảng Yên luôn tồn tại và phát triển.